Peoples

Bản sắc văn hóa Dân tộc Mông

18-05-2016 - 13:45 - 391 lượt xem

Bài viết của Hoàng Xuân Lương

Bản sắc văn hóa Dân tộc Mông

Thực hiện nhất quán chính sách dân tộc: Bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển, những năm qua các chương trình kinh tế xã hội đã được triển khai khá toàn diện ở vùng dân tộc và miền núi, trong đó có vùng đồng bào Mông, nhờ vậy đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào từng bước được cải thiện; đội ngũ cán bộ người dân tộc Mông được quan tâm bồi dưỡng, đào tạo, nhiều người đã trưởng thành, tham gia vào điều hành hệ thống chính trị từ cơ sở đến Trung ương ; đoàn kết giữa các dân tộc được củng cố ; do đó đã ngăn chặn được âm mưu của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo; giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.

Tuy nhiên, vùng đồng bào Mông vẫn là vùng nghèo nhất, địa bàn cư trú khó khăn nhất, lực lượng lao động chưa qua đào tạo nhiều nhất và còn nhiều vấn đề tiềm ẩn phức tạp: Như di cư tự do, xưng vua, ma túy…

Những sự thật này nếu không được phân tích đầy đủ và đúng đắn thì không thể giải quyết ổn định tình hình vùng dân tộc Mông, thậm chí càng xử lý càng gây bất bình trong nội bộ nhân dân. Ngược lại, trong đội ngũ cán bộ thì lại nẩy sinh mặc cảm với đồng bào cho là ở vùng người Mông hay nẩy sinh những vấn đề phức tạp.

Vì vậy, việc hiểu đúng những vấn đề văn hóa truyền thống để đưa ra các giải pháp đảm bảo các quyền của đồng bào, đáp ứng những đòi hỏi bức thiết của cộng đồng người Mông , từ đó góp phần ổn định an ninh chính trị, nâng cao đời sống vật chất tinh thần của nhân dân là một việc làm rất cần thiết.

Trong cộng đồng 54 dân tộc anh em, lịch sử dân tộc Mông có hai biến cố lớn xẩy ra đồng thời cùng một lúc: Bị phong kiến nhà Hán đánh tan địa bàn cư trú, xóa lãnh thổ, đồng hóa dân tộc, tiêu diệt tận gốc đàn ông.  người Mông phải chạy trốn về phía nam, cư trú trên những sườn núi cao, tách biệt với xã hội. Cho đến tận bây giờ, khi chết đi, người đàn ông Mông cũng phải mang theo trang phục phụ nữ, làm lễ đuổi giặc quanh quan tài để ngăn chặn sự truy bức, tiêu diệt của kẻ thù.

     Biến cố thứ hai là phải thay đổi hẳn cả phương thức sản xuất, từ làm ruộng nước gắn với nghề thủ công, chuyển sang làm rẫy ở độ dốc cao.

Những biến cố lịch sử đó qua năm tháng đã dần dần hun đúc ,kết tinh cách nghĩ cách cảm, phương thức ứng xử, chiều sâu trong đời sống tâm hồn . Đó là những đặc trưng văn hóa độc đáo của cộng đồng người Mông.

 1. Dân tộc Mông là dân tộc có ý thức đấu tranh kiên cường để bảo vệ nòi giống. Trong hoàn cảnh như dân tộc Mông , không ít dân tộc khi đã bị mất tiếng nói, chữ viết, mất văn hóa truyền thống, bị đồng hóa, thậm chí bị diệt tộc. Dân tộc Mông bị các thế lực phong kiến đánh đuổi, tiêu diệt, phải liên tục di cư qua muôn vàn núi non hiểm trở, khắc nghiệt, phải thay đổi cả tập quán canh tác, sản xuất, sinh hoạt. Ấy vậy mà họ vẫn giữ được bản sắc dân tộc mình, không hề pha lẫn dân tộc khác. Đó là đóng góp của văn hóa dân tộc Mông vào tính đa dạng, phong phú của nền văn hóa Viêt Nam .Bài học mà người Mông rút ra là trong cách làm ăn để sản xuất ra của cải, vật chất thì có thể học tập để tiếp thu kinh nghiệm của dân tộc khác, còn trong văn hóa tâm linh, trong cách cảm, cách nghĩ thì không chấp nhận yếu tố bên ngoài, mà hành động theo các quy ước, luật tục, tập quán của dân tộc. Điều này đặt ra nhiều suy nghĩ cho chúng ta trong việc lựa chọn, tiếp nhận các yếu tố ngoại sinh khi giao lưu quốc tế.

    2. Dân tộc nào cũng có tính cộng đồng, nhưng tính cộng đồng dân tộc, dòng họ của người Mông rất bền chặt . Dù ở bất cứ quốc gia nào người Mông đều thống nhất các lễ hội, phong tục tập quán, cách thức cúng ma . Dù mới gặp nhau lần đầu, dù ở bất cứ quốc gia nào, khi đã nhận là người cùng dân tộc, dòng họ thì người Mông coi nhau như anh em ruột thịt, sống chết vì nhau . Từ ý thức cộng đồng cao, người Mông có những phẩm chất đáng quý: Tôn trọng sự điều hành của trưởng bản, trưởng họ; con cái tôn trọng cha mẹ, nề nếp gia đình thuận hòa.

    3. Dân tộc Mông có đức tính cần cù, thông minh, sáng tạo, tính tự chủ tự quản khá cao , người Mông rất ghét ai lười nhác. Trong canh tác người Mông biết xen canh, gối vụ, luân canh ; sinh hoạt, ăn tiêu có kế hoạch; biết kết hợp sản xuất với khai thác tự nhiên, mở mang ngành nghề phụ. Các lễ hội, vui chơi đều được bố trí vào thời gian nông nhàn. Quá trình lao động người Mông đã sáng tạo ra nhiệu loại công cụ phù hợp như lưỡi cày trên núi đá, sản phẩm nghề rèn; tạo ra được bộ giống cây con có giá trị kinh tế, năng suất cao như gạo, gà đen, lợn đen, ngô nếp, rau cải, dưa chuột. Ở lĩnh vực nào người Mông cũng có sản phẩm đạt chất lượng cao, mang đậm nét bản sắc tộc người.

Mô hình quản lý xã hội dựa trên quan hệ dòng họ, gia đình, uy tín của trưởng họ, già làng thể hiện khả năng điều hành quản lý xã hội của người Mông có hiệu quả. Hệ thống luật tục của người Mông khá toàn diện nhiều điểm hợp lý, nhất là trên lĩnh vực bảo vệ rừng, nguồn nước, quy ước an ninh, xây dựng tình làng nghĩa xóm.

    4. Đặc điểm nổi bật nhất trong phương pháp tư duy của người Mông là kiểu tư duy đối ngẫu: Khi tư duy về hiện thực, về kế mưu sinh là lối tư duy duy cảm, trực giác, cụ thể thiết thực; nhưng khi tư duy về đời sống tâm linh là lối tư duy siêu thực, luôn ấp ủ, ước mơ, nuối tiếc, hy vọng, lãng mạn. Một đặc điểm nữa trong kiểu tư duy của người Mông là kết hợp cái lý của tự nhiên với cái quy ước, luật tục để suy đoán, cắt nghĩa các vấn đề xã hội, con người, mà ta hay gọi là “cái lý của người Mông”.

     5. Dân tộc Mông đề cao đời sống tinh thần, tâm linh, luôn có cách giải tỏa những lo âu, phiền muộn, đảm bảo sự cân bằng tâm lý. Mặc dầu cũng phân chia con người thành hai phần: Thể xác và linh hồn, nhưng người Mông quan tâm nhiều đến phần linh hồn. Họ quan tâm sâu sắc đến thân phận con người, các lo âu, phiền muộn, day dứt, nhớ nhung… và bao giờ họ cũng tìm phương pháp giải tỏa, cân bằng. Các nghi lễ trong suốt chu kỳ đời người đều tập trung vào chăm sóc đời sống tinh thần .Vợ chồng người Mông sống chung thủy, họ đề cao phẩm giá, thậm chí dư luận xã hội đòi hỏi rất khắt khe đối với người phụ nữ, ấy vậy mà người Mông vẫn có một ngày vào đầu tháng ba âm lịch, cả gia đình nhiều thế hệ cùng xuống chợ. Không phải để mua bán mà là để gặp lại bạn tình năm xưa. Không ai ghen tuông, không ai nghi kỵ, dù đã tuổi ông bà, dù đã có vợ chồng nhưng mọi người tự do gặp lại người yêu cũ. Khi tan chợ ai lại về với gia đình của mình, đợi ngày này năm sau. Đây là một sinh hoạt nhiều khía cạnh nhân văn cần phải được nghiên cứu.

6. Dân tộc Mông là một dân tộc rất yêu văn nghệ. Kho tàng văn hóa dân gian, truyện cổ, tục ngữ, ca dao của đồng bào Mông rất đồ sộ, phản ánh toàn diện đời sống vật chất, tinh thần . Trong xã hội người Mông tiếng hát giữ vị trí đặc biệt: Là tiếng hát, là lời nhắn gửi tâm tình, là phương tiện biểu đạt quy ước, luật tục, lưu giữ truyền thống lịch sử dân tộc.

Bản sắc văn hóa dân tộc Mông được biểu hiện toàn diện, sâu sắc trên tất cả các lĩnh vực, ở đâu cũng đậm nét văn hóa tộc người . Bên cạnh những giá trị rất đáng trân trọng, làm phong phú, đa dạng cho nền văn hóa các dân tộc Việt Nam, trong văn hóa truyền thống dân tộc Mông cũng có một số điểm hạn chế. Đó là tính biệt lập, khép kín, ít mở mang giao lưu; còn có biểu hiện tự ty, cục bộ dòng họ; có một bộ phận đồng bào tính quốc gia, quốc giới chưa cao, dễ bị kẻ xấu kích động tâm lý dân tộc ; quá trình khai thác tự nhiên còn thiếu kế hoạch, dẫn tới đốt rừng, du canh, di dịch cư tự do, truyền đạo trái phép …

Hoàn cảnh lịch sử và các đặc trưng văn hóa trên đây cho chúng ta thấy khát vọng cháy bỏng, khát vọng thường trực trong đời sống tâm linh của người Mông là có nơi cư trú ổn định, đảm bảo các điều kiện sống, trước hết là đất sản xuất, nước sinh hoạt ; mong muốn được bảo tồn và phát triển nòi giống  ; luôn mong muốn có thủ lĩnh để dẫn dắt dân tộc mình phát triển . đó là nguyện vọng chính đáng , là quyền được đòi hỏi của đồng bào mà chúng ta cần phải quan tâm giải quyết .

Trước hết phải khảo sát toàn diện vùng đồng Mông cư trú, để xác định nhu cầu ,điều kiện sống . Ở những nơi do không còn đất sản xuất ,nước sinh hoạt, địa hình quá chia cắt cần phải lập các khu tái định cư mới cho đồng bào. Ở những vùng đồng bào đã di cư tự do vì nguyên nhân nơi cư trú cũ không đảm bảo cuộc sống thì phải nhập hộ khẩu cho đồng bào, cho đồng bào được hưởng đầy đủ các chính sách hiện hành của nhà nước, không được phân biệt đối xử, phải thấy đây là công dân việt nam, là dân của mình. ổn định nơi cư trú cho đồng bào là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị. Quá trình bố trí dân cư phải kết hợp giữa xen kẽ và tập trung một cách hợp lý để cân nhắc đến các yếu tố dân tộc ,dòng họ của người Mông , vừa đảm bảo hòa nhập cộng đồng xã hội, vừa duy trì được sinh hoạt văn hóa truyền thống .

Xưng Vua là một hiện tượng vừa có tính thế tục vừa có tính tôn giáo. Đó là hiện tượng thường xuất hiện ở những dân tộc bị hẫng hụt trong tâm thức , chẳng hạn như người Kưm Mụ có phong tục “xưng chương” người HơRê ở Tây nguyên có phong trào “xăm brăm”  , nhưng hiện tượng “xưng vua” trong cộng đồng người Mông không chỉ là hiện tượng tín ngưỡng tôn giáo mà còn bắt nguồn từ chiều sâu lịch sử, từ nỗi đau mất địa bàn cư trú, bị các thế lực phong kiến tiêu diệt phải di cư đầy máu và nước mắt. Một mặt chúng ta phải làm cho đồng bào hiểu một quốc gia có nhiều dân tộc cư trú, một dân tộc cư trú ở nhiều quốc gia là điều đang diễn ra bình thường trên thế giới . không thể đòi hỏi mỗi dân tộc lại có lãnh thổ riêng , rồi dẫn đến các hành đông quá khích ,vi phạm luật pháp ; phải làm cho đồng bào hiểu rõ tổ quốc Việt nam là tổ quốc , là lãnh thổ của 54 dân tộc anh em ,trong đó có người Mông , là tổ quốc của người Mông mình. Nhưng đồng thời chúng ta lại hiểu nguyện vọng của đồng bào phải có thủ lĩnh đứng đầu để dẫn dắt dân tộc mình . phải xây dựng được ở mỗi làng bản, xã, huyện ,Tỉnh những cán bộ người Mông có uy tín, có đủ khả năng và điều kiện để quy tụ đồng bào . Họ là nơi mà đồng bào gửi gắm niềm tin, mỗi khi có khó khăn, có điều bế tắc thì đồng bào tìm đến họ. những năm qua chúng ta đã đào tạo ,bồi dưỡng được đội ngũ cán bộ người Mông khá nhiều, nhưng nhiều địa bàn có đông người Mông cư trú chưa có cán bộ dân tộc Mông, mặt khác điều mà chúng ta quan tâm nhất là những cán bộ chúng ta đào tạo chưa có đủ các điều kiện để làm tròn vai trò thủ lĩnh trong con mắt của người dân. Thậm chí nhiều kiến nghị của nhân dân không ai giải quyết, không ai chia sẻ, đó là một trong những nguyên nhân quan trọng tạo kẽ hở cho kẻ xấu tác động vào.

Mong muốn được bảo toàn và phát triển nòi giống là quyền chính đáng của mọi dân tộc. vì vậy phải sớm có cách giải quyết đúng các vấn đề như chữ viết ,đời sống tâm linh, tín ngưỡng ,tôn giáo , chất lượng dân số v.v… lấy chữ viết làm thí dụ. từ năm 1961 ngành giáo dục ta đã cho soạn thảo bộ chữ Mông dựa trên bảng chữ cái La Tin, tuy nhiên mấy chục năm qua, tác dụng còn rất hạn chế, đồng bào chưa hào hứng . Vì bộ chữ Mông ta biên soạn rất phức tạp, nó kết hợp chữ cái La Tin với âm sắc tiếng việt , gây nên nhiều thanh sắc , khó phát âm, nhiều từ khi phát âm lên nghe không đúng nghĩa tiêng Mông nữa. trong khi đó bộ chữ Mông quốc tế được biên soạn dễ đọc dễ nhớ, người Mông tiếp nhận rất nhanh. Nhưng một số người vẫn nghĩ rằng kẻ địch đang lợi dụng dân tộc Mông, họ đã có tiếng nói thống nhất , nếu bây giờ có chữ viết thông nhất nữa thì sẽ là phương tiện thuận lợi cho các hoạt động sai trái. Tôi nghĩ rằng nhận thức đó không đúng ,không nhân văn .quản lý đất nước mà cứ nghi kỵ, cảnh giác với chính đồng bào của mình thì không thể nào đoàn kết một cách thực lòng .v.v… một dẫn chứng đó để thấy còn rất nhiều vấn đề phải nghiên cứu để giải quyết thấu đáo cho các quyền lợi chính đáng của đồng bào Mông cùng với việc thường xuyên làm tốt hơn công tác vận động quần chúng để đồng bào khắc phục từng bước các hạn chế trong văn hóa truyền thống, không để làm ảnh hưởng đến vẻ đẹp của một dân tộc có  quá trình lịch sử lâu đời, với một kho tàng văn hóa đầy bản sắc.

Send comment
x